This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Ăn một quả bơ mỗi ngày giúp giảm cholesterol xấu

Một nghiên cứu của ĐH Pacific ở Stockton, California chỉ ra rằng ăn quả bơ tươi mỗi ngày có thể thay đổi hàm lượng lipid và cải thiện hàm lượng cholesterol. Theo kết quả nghiên cứu này, việc sử dụng bơ thay cho chất béo rắn và thực phẩm có hàm lượng chất béo bão hòa cao hơn làm thay đổi đáng kể lượng lipid. Theo các tác giả, bơ tươi là một phần của chế độ ăn uống cân bằng và là một chất thay thế không cholesterol cho chất béo rắn - có thể là một giải pháp để duy trì hàm lượng cholesterol bình thường. Ngoài chất béo tự nhiên, bơ cũng là một cách tuyệt vời để tăng cường chất xơ.

Nghiên cứu đã xem xét 10 nghiên cứu về quả bơ trên 229 người tham gia, đánh giá tác động của quả bơ lên hàm lượng cholesterol. Các nhà nghiên cứu thấy rằng ăn bơ thường xuyên (1-1,5 quả mỗi ngày) làm giảm đáng kể lượng cholesterol toàn phần, cholesterol xấu và triglyceride - một loại chất béo được tìm thấy trong máu, khi chúng được thay thế cho các nguồn chất béo bão hòa. Ngoài ra, ăn quả bơ không ảnh hưởng tới cholesterol tốt.

BS Tuyết Mai

(Theo THS)

Cho trẻ ăn dặm đúng cách

Con cháu được gần 6 tháng tuổi. Cháu định cho bé ăn dặm nhưng chưa biết nên bắt đầu thế nào, rất mong được bác sĩ hướng dẫn giúp.

Vương Thúy Hà (Thanh Hóa)

Khi trẻ được 6 tháng tuổi, ngoài sữa mẹ, trẻ cần được ăn bổ sung các loại thực phẩm khác. Ban đầu, khi mới tập ăn dặm, nên cho trẻ ăn từ lỏng đến đặc, từ ít đến nhiều, tập cho trẻ quen dần với thức ăn mới. Số lượng thức ăn và bữa ăn tăng dần theo tuổi, đảm bảo thức ăn hợp với khẩu vị của trẻ. Khi chế biến đảm bảo thức ăn mềm, dễ nhai và dễ nuốt. Dụng cụ chế biến phải sạch sẽ, rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn và khi cho trẻ ăn. Không nên cho trẻ ăn mì chính hay bột nêm vì không có chất dinh dưỡng, lại không có lợi cho sức khỏe của trẻ. Tất cả các loại thức ăn tươi, sạch, giàu dinh dưỡng mà người lớn ăn được hằng ngày đều có thể cho trẻ ăn được.

Thức ăn bổ sung gồm 4 nhóm. Nhóm cung cấp chất đạm: thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa, đậu đỗ, lạc, vừng... Nhóm tinh bột: gạo, mì, khoai, ngô... Nhóm chất béo: dầu, mỡ, lạc, vừng... Nhóm giàu vitamin và chất khoáng: rau, quả, đặc biệt các loại rau màu xanh thẫm và các loại quả có màu đỏ hoặc vàng. Một ngày phải cho trẻ ăn đủ 4 nhóm thực phẩm trên. Lượng chất đạm cho trẻ một ngày là 20-30g (thịt, cá, tôm), băm nhỏ, chia 2 bữa, nếu ăn trứng: 1/2 lòng đỏ trứng gà hoặc 2 lòng đỏ trứng chim cút.

ThS. Lê Hưng

Rượu bia: Bạn và thù của tim mạch

Rượu bia: người bạn tốt của tim mạch

Trong hơn 2 thập niên qua, thế giới đã có hàng trăm khảo sát trên cả triệu người từ trung niên đến cao tuổi, cả nam và nữ giới, với thời gian từ 10 năm trở lên đều cho thấy rượu bia - khi uống vừa phải - giúp giảm 20 - 40% nguy cơ tử vong do tim mạch so với người không uống rượu.

Về lý thuyết, lượng rượu nên uống trong khoảng 12 - 14g ethanol/ ngày, quy theo ly chuẩn với 113,4ml rượu vang hoặc 341ml bia hoặc 43ml rượu mạnh, nam giới không quá 2 ly chuẩn (đơn giản là không quá 2 lon bia, 2 ly rượu vang, hoặc 3 muỗng canh rượu đế), nữ giới không quá 1 ly chuẩn mỗi ngày.

Thực tế, mức trên còn tùy thuộc tuổi tác, thể trạng (nhất là khi có bệnh lý cơ quan khác kèm theo) và cơ địa (trong cơ thể có men và các gen liên quan chuyển hóa rượu nhanh hay chậm…). Đó cũng là lý do khiến tỉ lệ bảo vệ tim mạch, từ 15 - 50%, chênh biệt khá nhiều giữa các nghiên cứu.

Nguyên nhân tốt cho tim mạch do rượu làm tăng HDL-cholesterol (một loại mỡ tốt), làm giảm chất hoạt hóa plasminogen mô, fibrinogen, yếu tố đông máu VII, yếu tố von Willebrand (những chất tham gia tạo cục máu đông gây tắc mạch ở tim, não… đưa đến nhồi máu cơ tim, đột quỵ…), rượu bia lại có vitamin B2, B6, B9 giúp giảm homocystein và ngăn sự oxy hóa lipoprotein nên làm chậm tiến trình xơ vữa động mạch.

Và rượu bia: kẻ thù của tim mạch

Đó là khi uống nhiều thì lượng rượu càng cao càng tác hại cho tim mạch. Không chỉ qua các nghiên cứu thống kê mà thực tế cũng dễ thấy rất nhiều trường hợp nhập viện sau buổi nhậu do các biến chứng sau đây:

Tăng huyết áp: rượu bia làm giãn mạch da nhưng co mạch nội tạng nên khiến huyết áp tăng, cả huyết áp tâm thu lẫn huyết áp tâm trương. Rượu bia còn cung cấp nhiều calo khiến người uống tăng cân, béo phì và góp phần thúc đẩy huyết áp tăng.

Bệnh mạch vành: liên quan sự tăng do rượu những loại mỡ xấu như: triglycerid, LDL- cholesterol máu, gây xơ vữa mạch vành nuôi tim, đưa đến thiếu máu hay nhồi máu cơ tim.

Rối loạn nhịp tim: từ năm 1978 xuất hiện tên Hội chứng tim ngày nghỉ, do trong những ngày lễ hay cuối tuần, những người uống hơn 3 lít rưỡi bia, hoặc hơn nữa chai rượu vang bị rối loạn nhịp tim. Thường là rung nhĩ, ngoại tâm thu, khiến người bệnh hồi hộp, đánh trống ngực, cảm giác hụt hẫng trong ngực, nghẹn vùng cổ… Thuốc men sẽ không hiệu quả lâu dài nếu người bệnh chưa ngưng rượu.

Bệnh cơ tim giãn nở: khi uống một thời gian dài, chất chuyển hóa của rượu là acetaldehyte gây độc trực tiếp lên tế bào cơ tim, rượu bia còn làm giảm những chất cần cho hoạt động của tim như: vitamin B1 và các yếu tố vi lượng đồng, kẽm, crôm… Từ đó sẽ bị tim to, suy tim cùng các triệu chứng khó thở, mệt ngực, phù… mà thuốc điều trị khó cứu bệnh nhân về lại bình thường, chỉ giúp bớt triệu chứng và chậm tiến triển tử vong, đã được thống kê là tử vong 40 - 80% trong vòng 5 năm, đôi khi phải cần đến đặt máy tạo nhịp tim với chi phí hàng trăm triệu đồng.

Đột qụy do nhồi máu não, xuất huyết não, hậu quả của tăng huyết áp, tăng đường máu, tăng cân, tổn thương gan không tạo đủ yếu tố đông máu- tất cả đều do rượu.

PGS.TS.BS. TRẦN KIM TRANG

(Đại học Y Dược TP.HCM)

Những thực phẩm có khả năng chữa bệnh tuyệt vời

Bắp cải tím: Bắp cải tím chứa nhiều chất chống oxy hóa và hỗ trợ chống viêm hiệu quả. Hàm lượng cao của chất polyphenol anthocyanin (dưỡng chất thực vật) quy định màu tím của bắp cải giúp thúc đẩy sức khỏe tim mạch, tăng cường chức năng nhận thức và sức khỏe của não bộ, ngăn ngừa rối loạn chuyển hóa lipid của cholesterol ‘xấu’ LDL, ngăn ngừa nhiều bệnh ung thư. Bên cạnh đó, bắp cải tím còn chứa nhiều vitamin C, A giúp tăng cường miễn dịch, giảm cân, làm đẹp da…

Nho đỏ: Chúng ta đều biết rằng rượu vang đỏ và nho đỏ chứa chất resveratrol có khả năng chống lão hóa tuyệt vời, nhưng thực tế chúng còn có nhiều lợi ích hơn thế nữa. Resveratrol được ghi nhận là có khả năng giảm căng thẳng, chống viêm mạch máu và phòng chống kết tụ tiểu cầu. Hãy ăn nho đỏ mỗi ngày hoặc uống 1 ly rượu vang, bạn sẽ có một cơ thể khỏe mạnh.

Bí đỏ: Không chỉ là loại rau hoàn hảo của mùa thu/mùa đông, bí đỏ còn là một loại thực phẩm có khả năng chữa bệnh tuyệt vời, đặc biệt là bệnh cúm và cảm lạnh thông thường. Chúng chứa vitamin A, rất cần thiết cho thị lực, sản xuất tế bào máu đỏ, tăng cường hệ thống miễn dịch. Vitamin A tan trong chất béo nên cách tốt nhất để thưởng thức bí đỏ trong mùa đông là nấu chúng với một chất béo lành mạnh như dầu dừa hoặc dầu ô liu.

Cải Brussels: Cải Brussels đáp ứng 240% nhu cầu vitamin K hàng ngày của bạn. Vitamin K là một chất béo hòa tan vitamin thiết yếu cần thiết giúp bạn nhanh chóng phục hồi thương tích, tăng cường sức khỏe của xương, phòng chống vôi hóa trong động mạch. Hãy chế biến cải brussels bằng cách nướng, hấp hoặc thêm vào các món salad để thưởng thức.

Hạt lựu: Hạt lựu cũng là một nguồn tuyệt vời của các chất chống oxy hóa. Chúng được ghi nhận là có khả năng chống oxy hóa cao gấp 2-3 lần trà xanh và rượu vang đỏ, có nghĩa là chúng giúp bảo vệ các tế bào khỏi quá trình căng thẳng và các phản ứng oxy hóa gây lão hóa sớm.

Hành lá: Bạn cảm thấy ngứa cổ họng hoặc nghẹt mũi, cảm lạnh? Hãy thêm hành lá vào súp, salad, trà gừng hoặc bánh khoai tây để giảm nhanh các triệu chứng. Hành lá giúp cơ thể đào thải độc tố ra ngoài qua mồ hôi, đồng thời chúng có tính kháng vi-rút và kháng khuẩn hiệu quả.

Tỏi: Tỏi là một loại thảo dược có tính chất kháng vi-rút, chống nấm, chống oxy hóa và kháng khuẩn tuyệt vời nhờ hợp chất có tên allicin. Tỏi được sử dụng để tiêu diệt các độc tố và ký sinh trùng, giảm sưng trong cơ thể. Thêm tỏi vào chế độ ăn uống hàng ngày để tận dụng lợi ích của nó.

Dưa chuột: Trong y học cổ truyền Trung Quốc, dưa chuột được biết đến với khả năng chữa bệnh đặc biệt: không chỉ giúp làm mát cơ thể, mà còn giúp đào thải độc tố, làm sạch máu, tăng cường sức khỏe tim, bôi trơn ruột và phổi, tiêu diệt sán dây. Ăn dưa chuột còn giúp giảm sưng, phù nề ở bàn tay và bàn chân, giảm triệu chứng nhiễm trùng bàng quang.

Hạt hướng dương: Giống như hạt lựu, hạt hướng dương chứa canxi và magiê, vitamin E rất tốt cho sức khỏe, làm đẹp da, ngăn ngừa mụn trứng cá. Đặc biệt, hạt hướng dương giúp hạ huyết áp và giảm đau đầu, chóng mặt. Trong Đông y, hạt hướng dương còn giúp khắc phục một số triệu chứng đường ruột nghiêm trọng như bệnh lỵ hoặc giun sán.

An An (Sheknows)

(Ảnh minh họa: Internet)

Chế độ ăn và luyện tập thể thao giúp điều trị đái đường type 2

Theo kết quả nghiên cứu báo cáo trong hội nghị thường niên của Hiệp hội Nội Tiết - 2016 thì một chế độ ăn thích hợp, luyện tập thường xuyên giúp kiểm soát bệnh đái đường type 2. Ở Pháp có khoảng 3 triệu người mắc bệnh, chiếm 4,7% dân số. Hàng năm số người mắc bệnh tăng lên do có thói quen ăn uống không lành mạnh và ít vận động. Và đây đang là vấn đề sức khỏe của cộng đồng.

che-do-an-va-luyen-tap-the-thao-dieu-tri-dai-thao-duong-type-2

Các nhà nghiên cứu của Đại học Baylor of Medicine-Houston-Mỹ cho thấy những bệnh nhân tuổi từ 65-85 mắc đái đường type 2 với khóa tập 90 phút aérobic 3 lần một tuần và khóa học về dinh dưỡng 1 tuần 1 lần sẽ giảm được cân nặng và lượng mỡ. Cá nhà khoa học cũng ghi nhận sự cải thiện mức HbA1c (một chỉ số nồng độ glucose trong máu).

Các nhà nghiên cứu cũng tiến hành khảo sát 48 người bị béo phì và thừa cân, tuổi đời từ 59 tuổi và mắc tiểu đường type 2. Những bệnh nhân được chia thành 3 nhóm, tất cả đều có bữa ăn sáng « thịnh soạn », bữa ăn trưa vừa phải và bữa ăn tối nhẹ trong 23 tháng. Các nhóm chỉ khác nhau bữa ăn sáng, một nhóm dùng protein lactosérum dưới dạng milkshakes (hỗn hợp được xay nhuyễn từ kem, sữa tươi, được tạo thêm hương vị bởi một lớp kem sữa phủ lên trên cùng), một nhóm dùng protein dạng khác ( trứng, đậu nành, cá) và nhóm cuối cùng dùng các chất giàu tinh bột. Kết quả cho thấy nhóm dùng protein lactosérum giảm cân nhiều nhất- 7,6 kg trong 12 tuần so với nhóm dùng trứng, sữa chỉ 6,9 kg và nhóm dùng nhiều tinh bột chỉ giảm 3,1kg.

Bs Ái Thủy

(theo Top Sante)

Mẹo chọn thực phẩm an toàn

1. Chọn các loại thịt

Trước tiên, nên lựa chọn địa điểm bán hàng uy tín, chất lượng. Dấu hiệu nhận biết là dấu chứng nhận của cơ quan thú y trên sản phẩm và nhãn mác sản phẩm. Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến vệ sinh của quầy bán thịt vì đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt và sự an toàn khi sử dụng.

Nếu thịt tươi thì bề mặt khô mịn, không bị nhớt, khối thịt rắn chắc, có độ đàn hồi cao, ấn ngón tay vào thịt tạo thành vết lõm nhưng không để lại dấu vết khi nhấc ngón tay ra. Nếu thấy mặt thịt thô ráp, ngửi không có mùi thơm của thịt, đề nghị người bán rạch một lằn dao vào thớ thịt, xem bên trong có màu tươi hồng của thịt (thịt lợn) hoặc màu đỏ tươi (thịt bò) thì thịt đó vẫn còn tươi.

Nếu thịt có màu sẫm, hoặc có vết bầm ở cơ hoặc các nốt hoặc đám xuất huyết trên da thì không nên mua vì đó là các dấu hiệu nghi thịt gia súc, gia cầm đã chết hoặc mắc bệnh hoặc do nhuộm màu.

Không nên mua thịt có màu nhợt nhạt hoặc có các bọc trắng trong thớ thịt, đối với thịt lợn không nên mua thịt khi mỡ có màu vàng và mùi khét.

Đối với thịt đông lạnh cần xem kỹ nhãn mác xuất xứ và hạn sử dụng ghi trên bao bì và thiết bị bảo quản.2. Chọn cá tươi ngon


Chọn những con cá mắt sáng, nhanh, chạm vào bơi nhanh, quẫy khỏe chứ không lù đù. Mua cá thì bạn cũng đừng ngại ngần việc bẩn tay, vì ngại sẽ dễ mua phải cá không ngon. Hãy vạch mang cá ra xem, nếu mang còn đỏ là cá tươi nhưng nếu nó trắng bệch hoặc thâm là cá ươn.

Nhìn bề ngoài cá, nếu còn nhớt bóng, mắt cá còn trong suốt, vảy cá không rời ra, mang cá còn hồng, bỏ con cá vào nước thì cá chìm xuống, đó là con cá tươi. Còn nếu bề ngoài cá có dịch dính, mắt lõm xuống, vảy cá dễ rơi ra, có màu nhợt nhạt, thịt cá không còn đàn hồi, bụng cá và hậu môn cá trương ra, bỏ vào nước cá nổi, thì con cá đó đã bị ươn.

Phân biệt cá bị nhiễm độc

Mang cá là cơ quan hô hấp của cá, giống như buồng phổi của con người, phần lớn chất độc có lẽ tập trung tại đây. Mang cá dính độc sẽ không sáng trơn, hơi thô và có màu hồng thâm đậm. Cá bị nhiễm độc nặng thì mình cá không còn nguyên, đầu to đuôi nhỏ, lưng cong gù thậm chí có u. Có con da còn bị vàng và đuôi xanh. Mắt cá bị nhiễm độc thường bị đục, mất vẻ tinh anh bình thường, có con thậm chí mắt còn lồi ra ngoài. Ngoài ra, cá bị nhiễm độc sẽ có những mùi bất thường như mùi tỏi, mùi dầu hôi…

3. Cách chọn rau, củ, quả

Yếu tố đầu tiên, nên lựa chọn địa điểm bán hàng có uy tín, chất lượng.

Lựa chọn những loại rau củ màu sắc tươi xanh tự nhiên, cầm chắc tay, nặng tay, bề ngoài nguyên vẹn không bị trầy xước.

Đối với một số loại rau ăn lá không nên chọn rau có bề mặt nhẵn bóng, xanh mướt vì có thể sản phẩm đó được sử dụng các loại phân bón lá và thuốc bảo vệ thực vật vẫn còn tồn dư trong rau và bề mặt.

Đối với các loại rau dạng củ, quả nên chọn các loại củ trơn nhẵn, da căng, không bị dập nát, màu sắc củ phải đồng nhất, không nên chọn mua các loại củ đã mọc mầm vì ảnh hưởng đến tiêu hóa. Không mua những loại thực phẩm đã mọc mầm nhất là khoai tây, vì trong những mầm này có chứa chất solanine rất đắng và độc, sử dụng quá nhiều chất này có thể gây ngộ độc và ung thư, trong những trái cà chua xanh cũng có chứa nhiều chất solanine, cần phải ủ cho cà chua chín ngả sang màu đỏ để làm mất đi chất solanine rồi mới nên ăn.

Khi chọn các loại đỗ quả, mướp đắng nên chọn quả có cuống to màu xanh tươi, thân mềm, hạt không lớn, không nhỏ.

Không nên mua những loại củ quả được gọt sẵn ngoài chợ vì chúng không đảm bảo và những người bán có thể gọt bỏ đi những củ sâu bệnh để gọt chung vào đó, đồng thời nước ngâm hoa quả của họ không được đảm bảo vệ sinh, có thể khiến nhiều vi sinh vật bám vào đó.

Nên nêm nếm nhạt cho trẻ hơn một chút

Một số bí quyết dinh dưỡng sau sẽ giúp ích cho các bà mẹ mới sinh con và chăm con nhỏ

"Khôn ăn cái, dại ăn nước"

Có lẽ chúng ta nghĩ rằng, sau khi hầm nhừ một loại thực phẩm nào đó, tất cả những chất bổ tinh túy nhất của thực phẩm đã tan vào trong nước, “phần cái” còn lại chỉ là “xác”. Tuy nhiên, các phân tích thành phần dinh dưỡng đã cho thấy, chất đạm (thịt, cá, tôm...) có nấu trong bao lâu thì vẫn chỉ có ở phần xác mà không tan được vào trong nước, chất xơ trong rau củ cũng vậy. Vì vậy, muốn nhận đủ các chất dinh dưỡng phải cho trẻ ăn cả phần cái (xác) của thực phẩm bằng cách băm nhuyễn, cắt nhỏ, nấu mềm... Phần nước hầm có vị ngọt rất ngon nhưng lại không có giá trị dinh dưỡng bao nhiêu.

Rất nhiều bà mẹ đến gặp bác sĩ chia sẻ là tại sao mình bỏ nhiều công sức chăm con kỹ vậy mà con vẫn bị suy dinh dưỡng. Ngày nào cũng tốn cả tiếng đồng hồ hầm xương với khoai tây, cà rốt để nấu cháo cho trẻ mà trẻ vẫn ngày càng ốm đi. Khi bác sĩ hỏi bà mẹ: “Nếu ăn canh súp này liên tục trong 1 tuần thì chị ăn nổi không?” thì bà mẹ mới nhận ra sai lầm của mình. Trẻ nhỏ nhưng cũng đã biết thưởng thức mùi vị, ăn mãi nước xương làm sao mà không ngán. Và không phải món ngon của mẹ luôn là món ngon của con. Cho bé ăn uống đa dạng, đổi món thường xuyên là cách tốt nhất để bé nhận được nhiều loại chất dinh dưỡng mà không bị ngấy.

nen-nem-thuc-an-nhat-hon-cho-tre-nho

Do trẻ nhỏ có vị giác nhạy bén hơn người lớn, bạn nên nêm nếm nhạt hơn một chút cho bé

Cách nấu ăn thông minh đảm bảo không mất dinh dưỡng cho trẻ nhỏ

Do quá bận rộn, một số bà mẹ đã phải làm cách này vì thời gian hầm một nồi cháo khá lâu, mà bé lại ăn mỗi bữa không nhiều. Ví dụ như bạn nấu một nồi cháo đầy đủ 4 nhóm dinh dưỡng gồm cháo + thịt heo + rau mồng tơi + dầu ăn. Khi bạn hâm lại lần 1 rồi lần 2, lượng vitamin trong rau sẽ mất đi gần hết và có mùi vị khó ăn. Trẻ lại bị ngán vì ăn 3 bữa cùng một mùi vị. Tại sao bạn không hầm một nồi cháo trắng khoảng 3 bát, sau đó múc ra 1 bát cháo để nấu riêng với thịt heo, rau mồng tơi, dầu, nêm nước mắm để ăn sáng, phần cháo trắng còn lại để tủ lạnh, rồi trưa múc ra 1 bát nấu với thịt bò, rau lang, dầu ăn, nêm nước tương, bát cháo còn lại ăn tối với đậu hũ, bí đỏ, dầu ăn, nêm đường ngọt. Lưu ý sau khi băm nhuyễn thịt, cá… sống, bạn nên đánh tan phần đạm này trong một ít nước lã trước khi bỏ vào nồi nấu chín thì thịt sẽ không bị vón cục lại. Phần rau củ cũng nên băm nhỏ để trẻ nhận được đủ chất dinh dưỡng và chỉ nên nấu rau một lần.

Lưu ý khi nêm nếm thức ăn của trẻ

Trẻ nhỏ có cảm giác vị giác tốt hơn người lớn rất nhiều, vì con người càng lớn thì lưỡi càng bị “chai đi” và nhiều người già bị mất cả cảm giác này. Vì vậy khi nêm nếm thức ăn cho trẻ, bạn cần nêm nhạt hơn “lưỡi” của bạn một chút. Nếu bạn nêm vừa miệng mình thì có lẽ là quá mặn hoặc quá ngọt so với trẻ.

BS.Đào Thị Yến Thủy

(Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM)